Author Topic: 006. ĐƯỜNG VỀ TỊNH ĐỘ  (Read 1106 times)

ngọn đèn chơn lý

  • Global Moderator
  • Full Member
  • *****
  • Posts: 223
    • View Profile
006. ĐƯỜNG VỀ TỊNH ĐỘ
« on: March 16, 2011, 09:02:25 PM »
Đề cương số 06
   ĐƯỜNG VỀ TỊNH ĐỘ
DÀN-BÀI: TÓM TẮT
I. MỞ-BÀI:
     - Khái quát lịch sử và sự truyền thừa Tịnh độ tông
II. THÂN-BÀI:   
A. TỊNH ĐỘ NGHĨA LÀ GI? TỊNH ĐỘ CÓ MẤY CÕI
   B. LÝ DO CẦU SANH TỊNH ĐỘ?
      1.  DO CÕI TỊNH ĐỘ CÓ TÁM ĐIỀU VUI THÙ THẮNG.
- Khỏi màng lo nỗi khổ sanh.
- Khỏi vì khổ lão.
- Khỏi lo khổ bịnh.
- Khỏi đeo khổ tư.
- Khỏi quả khổ mưu cầu bất đắc.
- Thoát sống khổ thương yêu ly biệt.
- Khỏi khổ câu oán ghét gặp nhau.
-Khổ buồn rầu lo sợ chẳng còn.
2. DO CÕI TỊNH ĐỘ CÓ ĐỦ CÁC BÁU
   - Bảo trì (ao báu)
   - Bảo thọ ( cây báu)
   - Bảo võng ( lưới báu)
   - Bảo lâu (lầu báu)
   - Bảo điểu (chim báu)
   - Bảo đia (đất bu)
C. ĐIỀU KIỆN VÃNG SANH TỊNH ĐỘ.
1. TRỪ LÒNG DỤC NHIỄM (TỰ LỰC).
2. HỘI ĐỦ TÍN  NGUYỆN VÀ HÀNH (THA LỰC).
D. NHỮNG TẤM GƯƠNG VÃNG SANH TỊNH ĐỘ.
1. XƯA (các tín đồ theo Đạo Phật)
2. NAY (Những tín đồ PGHH)
III. KẾT-BÀI:
TẠI NHÀ TU CŨNG ĐƯỢC VÃNG SANH TỊNH ĐỘ.
----o0----






Đề cương số 06
   ĐƯỜNG VỀ TỊNH ĐỘ
DÀN-BÀI
MỞ-RỘNG VÀ CHỨNG-MINH



I. MỞ-BÀI:
     - Khái quát lịch sử và sự truyền thừa Tịnh độ tông
Phật giáo truyền vào Trung Hoa vào cuối thế kỷ thứ nhất cho đến đầu thế kỷ thứ hai nhưng những kinh luận thuộc giáo nghĩa Tịnh độ phải đến thế kỷ thứ ba mới xuất hiện. Vào thời Ngụy (250), ngài Khang Tăng Ngãi (Sanghavarman) dịch kinh Vô Lượng Thọ, cư sĩ Chí Khiếm (thời Tôn Quyền) dịch bộ Đại A Di Đà kinh. Đến đời Diêu Tần (thế kỷ IV), ngài La Thập dịch Phật thuyết A Di Đà kinh, còn gọi là tiểu kinh A Di Đà, ngài Phật Đà Bạt Đà La (Giác Hiền) dịch Tân Vô Lượng Thọ kinh, Quán Phật tam muội kinh, ngài Trí Nghiêm dịch Tịnh độ tam muội. Thời Lưu Tống (thế kỷ V), ngài Cương Lương Da Xá (Kàlayàsas) dịch Quán Vô Lượng Thọ kinh, ngài Bồ Đề Lưu Chi (thế kỷ VI) dịch Vô Lượng Thọ kinh luận. Đặc biệt, ngài Thế Thân trước tác Vãng sinh Tịnh độ luận..., đến đây giáo nghĩa Tịnh độ tông tương đối hoàn chỉnh. Ba tác phẩm được coi là nền tảng của Tịnh độ tông là kinh Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đà, cộng thêm tác phẩm Vãng sinh Tịnh độ luận của Thế Thân.
Tịnh độ tông Trung Hoa, ngài Huệ Viễn (333-416). Năm 402, Ngài lập ra Hội Niệm Phật tại Lô Sơn, lấy tên là Bạch liên xã, không phân biệt tại gia hay xuất gia, cách tu đơn giản là thành kính lễ bái và niệm hồng danh Đức Phật A Di Đà. Pháp tu của ngài Huệ Viễn đã tạo nên đường lối của Tịnh độ tông.
Đến thế kỷ sau, ngài Đàm Loan (476-542) tiếp nối xiển dương pháp môn Tịnh độ. Ngài trước tác những bộ: Vãng sinh luận chú, Tán Phật A Di Đà kệ... Ngài dạy chúng tu học và xiển dương giáo lý Tịnh độ, chú trọng yếu tố "Tín tâm niệm Phật", đây cũng là sắc thái khác của Tịnh độ tông.
Ngài Đạo Xước (562-645) có nhân duyên với ngài Đàm Loan, Ngài xuất gia năm 14 tuổi, chuyên nghiên cứu về Niết bàn tông, một hôm đến chùa Huyền Trung núi Thạch Bích, đọc bia đá ghi chép sự tích ngài Đàm Loan thì lòng sinh cảm kích, Ngài quay sang tu Tịnh độ và thường giảng dạy Quán Vô Lượng Thọ kinh. Ngài nỗ lực giáo hóa dân chúng trong vùng tu Tịnh độ và là người chế ra tràng hạt để dạy cách trì danh niệm Phật. Đối với nông dân, Ngài bày cách lấy hạt đậu đếm số niệm Phật gọi là "tiểu đậu niệm Phật". Ngài trước tác An lạc tập và một số tác phẩm khác, triển khai ý nghĩa tu dễ và tu khó để kết luận rằng tu Tịnh độ là dễ. Ngài biện minh ý nghĩa tha lực của Đức Phật A Di Đà làm cho mọi người đều thích thú pháp môn này. Đệ tử của Ngài khá đông, xuất sắc gồm có Thiện Đạo, Đạo Phủ, Tăng Điền...
Ngài Thiện Đạo (613-681) nối chí thầy mình xiển dương giáo lý Tịnh độ. Phật giáo đời Đường rất hưng thịnh, Tịnh độ tông cũng phát triển mạnh mẽ, phần lớn nhờ công lao của Thiện Đạo. Ngài là người ở Lâm Truy, khi xuất gia tìm thầy học đạo, Ngài gặp Đạo Xước học pháp môn Tịnh độ. Sau khi thầy mất, Ngài về Trường An trụ trì chùa Quang Minh và chùa Từ Ân, giảng dạy và truyền bá pháp môn Tịnh độ. Ngài viết 10 vạn cuốn kinh A Di Đà và vẽ 300 đồ hình tả cảnh Tịnh độ, làm cho thế giới Tịnh độ trở nên sống động và hiện thực trong tâm người tu nên họ theo rất đông. Ngài trước tác nhiều kinh sách như Quán Vô Lượng Thọ kinh sớ, Vãng sinh lễ tán, Quán niệm pháp môn, Ban châu tán. Đường lối tu tập của Ngài được đời sau ca ngợi và trở thành một phương thức đặc trưng của Tịnh độ tông.
Ngài Từ Mẫn (680-748) là một hành giả Tịnh độ khá nổi tiếng vào đời Đường, Ngài noi gương các vị tiền bối, lên đường "nhập Trúc cầu pháp". Ngài ra đi năm 702 (thời Võ Tắc Thiên), đến Bắc Thiên Trúc (Ấn Độ) gặp được hóa thân của Quán Thế Âm Bồ tát trao cho pháp môn Tịnh độ. Ngài ở Ấn Độ 18 năm mới về nước, được vua Huyền Tôn tặng danh hiệu "Từ Mẫn tam tạng". Ngài trước tác Vãng sinh Tịnh độ tập để truyền bá pháp môn Tịnh độ mà Ngài đã lãnh hội trên đất Ấn, trở thành một dòng tư tưởng Tịnh độ độc lập.
    Đời Tống (960-1279),  Sau này các học giả phân chia đường hướng tu tập của pháp môn Tịnh độ thành 4 hệ thống: Huệ Viễn chú trọng "Quán tưởng niệm Phật", Đàm Loan chú trọng "Tín tâm niệm Phật", Thiện Đạo chú trọng "Khẩu xưng niệm Phật", Từ Mẫn thiên về "Thiện căn niệm Phật".
Đời Minh (1360-1661), Tịnh độ tông được phát triển do các đại sư Vân Thê, Liên Trì, Trí Húc, nhất là hàng cư sĩ tu Tịnh độ phát triển mạnh phổ cập sâu rộng trong quần chúng.
Đến đời Thanh, tư tưởng Tịnh độ dung hợp trong mọi pháp môn, tông phái. Những đại sư xiển dương Tịnh độ có ngài Tĩnh An, Thực Hiền (1686-1734). Ngài Ấn Quang ở cuối đời Thanh là một bậc cao đức truyền bá pháp môn Tịnh độ. Pháp môn Tịnh độ hưng khởi ở Trung Quốc, sau đó được truyền qua các nước Tây Tạng, Nhật Bản, Việt Nam, Triều Tiên, được tiếp nhận nhanh chóng và phát triển mạnh mẽ.
Đến đời Tự Đức (Triều Nguyễn ), Phật Thầy Tây An ra đời (1807-1856), lập trại ruộng ở Thới Sơn và hướng dẫn tín đồ tu hành tại gia, mãi đến năm Kỷ Mão (1939) Đức Huỳnh Giáo Chủ ra đời tiếp tục xiển dương tông Tịnh Độ và hoằng truyền pháp môn niệm phật rộng rãi trong quần chúng. Ngài cho biết:
“…Muốn tu-tỉnh nay đà gặp cuộc,
Đức Di-Đà truyền mở Đạo lành.
Bởi vì Ngài thương xót chúng-sanh,
Ra sắc lịnh bảo Ta truyền dạy.
Nên khổ-lao Khùng không có nại,
Miễn cho đời hiểu đặng Đạo mầu…”
Hay là:
“…Môn Tịnh Độ là phương cứu-cánh,
Rán phụng-hành kẻo phụ Phật xưa.
Lòng từ-bi chẳng quản nắng mưa,
Xông thuyền giác rước đưa sanh-chúng…”
II. THÂN-BÀI:   
   
A. TỊNH ĐỘ NGHĨA LÀ GI? TỊNH ĐỘ CÓ MẤY CÕI?
Tịnh 淨Q: Trong sạch.
 Độ 土: Cõi nước.
Tịnh độ là cõi nước thường trụ của chư Phật và chư đại Bồ Tát.
Tịnh độ có bốn cõi:
1. Phàm Thánh đồng cư Tịnh Độ (Cõi Tịnh Độ phàm và thánh ở chung với nhau).
2. Phương tiện hữu dư Tịnh Độ (Cõi Tịnh Độ của hàng nhị thừa Thinh Văn và Duyên Giác.
3. Thật Báo trang nghiêm Tịnh Độ (Cõi Tịnh Độ của hàng Bồ Tát),
4. Thường Tịch Quang Tịnh Độ (Cõi Tịnh Độ thường trụ của chư Phật). Cõi Cực Lạc của Đức Giáo chủ A Di Đà Phật còn gọi là Phàm Thánh Đồng Cư Tịnh Độ.
Trong kinh Duy Ma bảo rằng: “ Dục đắc Tịnh Độ, đương tịnh kỳ tâm. Tuỳ kỳ tâm tịnh, tức quốc độ tịnh.” Nghĩa là ( Muốn về cõi Tịnh Đô, trước phải lóng sạch tâm mình. Tâm mình thanh tịnh tức cõi Phật thanh tịnh)
Tịnh Độ cũng là một pháp môn tu tắt, lại khế hợp các căn cơ trình độ chúng sanh thời Mạt pháp. Như chúng sanh nào chỉ thành tâm niệm sáu chữ “ Nam Mô A Di Đà Phật”, từ một đến mười niệm trong giờ phút lâm chung sẽ được cứu cánh viên mãn. Như Đức Thầy đã cho biết.
   B. LÝ DO CẦU SANH TỊNH ĐỘ?
      1.  DO CÕI TỊNH ĐỘ CÓ TÁM ĐIỀU VUI THÙ THẮNG.
- Khỏi màng lo nỗi khổ sanh.
“…Đức Thích-Ca từ xưa dạy bảo:
Khổ Ta-bà nhiếp lại tám phần.
Bởi chúng-sanh mang lấy xác thân,
Khổ thứ nhứt sự Sanh là gốc.
Vào bụng mẹ chung quanh bao-bọc,
Có khác nào ở chốn ngục-tù.
Buổi mẹ đau huyết kiệt hình thu,
Lúc mẹ đói dường treo lỏng-bỏng.
Ta kể sơ những điều bi-thống,
Mẹ no cơm chật-chội khó-khăn.
Khi ra đời đau-đớn vô ngằn,
Cất tiếng khóc nếm mùi dương-thế…”
“ Sự sanh-khổ – Vì linh-hồn chưa được hoàn toàn tròn đạo hạnh mà đắc quả vị nên còn phải đầu thai làm con người thế-gian. Khi nhập vào thai trong bụng người đàn-bà thì phải chịu sự tối-tăm tồi-túng, chẳng thấy trời trăng. Bị bao-bọc ràng-rịt, thai-nhi bị sự nuôi dưỡng  bằng tinh-huyết của mẹ, lúc mẹ đau ốm thì thai nhi yếu-ớt; lúc mẹ làm lụng mệt-nhọc, thai-nhi chẳng yên; lúc mẹ đói cơm, thai-nhi dường như cái túi bị treo chẳng vững; lúc mẹ ăn uống no bụng, thai-nhi bị sự lấn-ép của bao tử và ruột rất nhọc-nhằn. Khi đúng ngày giờ phải chun ra cửa sản-môn ô uế như hai viên đá ép mình, khi ra khỏi mình mẹ, cảm thấy hơi gió cắt da, đau nhức khó chịu nên cất tiếng khóc để tỏ ý chẳng bằng lòng với cảnh cực-nhọc.
   Xét như vậy nên Phật mới cho sanh là khổ; mà chúng ta là người học đạo, xét cho chí-lý đều cũng phải công-nhận sự nhận-xét của Phật rất đúng vậy…”
“…Thần-Thức nhập Thai-Sen tinh-hảo,
Nên khỏi màng lo nỗi khổ sanh…” Quyển năm
- Khỏi vì khổ lão.
“…Đoạn Lão khổ thứ nhì xin kể,
Từ trẻ thơ đến tuổi thành nhân.
Hết tráng-cường đến lúc mòn thân,
Răng lần rụng lưng cong gối mỏi.
Nằm đi đứng đỡ nưng chống-chỏi,
Thử nghĩ coi lao-nhọc cùng chăng?...”
“…Sự già khổ – Hễ sanh ra thì lớn, lớn rồi tất phải già; xét nghĩ trong lúc tuổi  xuân-sanh, đời sống  cứng-cỏi, hoạt-động hăng-hái, đi đứng lẹ-làng, nói năng bặt-thiệp, xác thịt mạnh-mẽ, học-hỏi dễ-dàng, tỏ tai sáng mắt, thấy biết nhiều điều. Ô hô! Mà nay sao lại răng rụng mắt lờ, ù tai, choáng óc, da nhăn má cóp, gối mỏi, lưng khòm, nằm ngồi chậm-chạp, đi đứng xéo-xiên, uống ăn đổ tháo, bọn trẻ dễ khinh, già đành nhờ cậy, đi tay nương gậy, phế việc dân quan, tinh-thần hao kém; khí lực hầu tàn, thoạt nhớ thoạt quên, nhiều khi lầm-lẫn, tóc bạc da mồi, lắm điều lao-nhọc.
   Vậy nên Phật mới cho sự già là khổ, mà chúng ta cũng không thể nào không công nhận…”
“…Thân thì Thân Công-Đức hiền lành,
Bất di-dịch khỏi vì khổ lão…”
- Khỏi lo khổ bịnh.
“…Đoạn thứ ba ma Bịnh làm nhăng,
Đeo hành phạt xác thân ô-uế,
Bởi thời-thế chuyển xây biến-thể,
Thêm uống ăn chẳng được điều-hòa.
Là nguyên-nhân căn bịnh phát ra,
Thân trằn-trọc hôn-mê nhức-nhối.
Cơn bịnh hoạn càng không tránh nổi,
Còn mang thêm tật nọ tật kia…”
“…Sự đau khổ –Nghĩ vì thân-thể con người sanh ra cõi trần, có lớn già thì tất nhiên yếu-đuối; nếu đã yếu-đuối ắt ăn ngủ chẳng được điều-hòa, thêm ngoài thì bốn mùa thay đổi, tám tiết xây-vần, do nơi thân già yếu-đuối, cảm những tà-khí mà sanh ra bịnh tật. Ôi! Hễ thân huyễn giả nầy mang lấy bịnh  tật rồi, nào là cơn
tỉnh, cơn mê, tay chơn nhức nhối, gan ruột quặn đau, phổi héo tim khô, da teo huyết cạn, kẻ mang lao mang tổn, phương  đàm ho suyễn, người thì đui cùi lở lói, bại sụi sưng tê, thang thuốc chẳng an, khẩn-nguyền chẳng giảm, cầu sống chẳng đặng, cầu chết chẳng xong.
   Vậy thử hỏi khách trần-gian ai mà không  muốn xa muốn tránh, mà nào ai  được khỏi? Muốn tránh, tránh chẳng được, lại đa mang; như còn khổ-não về bịnh-tật, bút nào mà tỏ ra cho hết…”
“…Thể Thanh-tịnh thường không huyên-náo.
Hết lo toan nắng lạnh gió mưa.
Khổ bịnh kia bởi đó mà chừa,
Ta thoát cuộc lao-đao vì nó…”
- Khỏi đeo khổ tư.
“…Rồi từ đây đến lúc chia-lìa,
Đoạn Tử-khổ thứ tư phân giải.
Trên dương-thế hữu hình tất hoại,
Có sanh ra khổ-hải đâu chừa.
Trải  bao  phen  dãi-gió  dầm-mưa,
Ngày kiệt sức huyễn-thân tan nát.
Gần hấp-hối tâm thần xao-xác,
Trí vẩn-vơ kinh-sợ vô cùng.
Rồi mòn lần đến lúc lâm-chung,
Giã cõi tạm theo đường tội phước.
Nhiều phương thuốc ngừa sau ngăn trước,
Mà cũng không thoát luật tuần-hườn.
Dầu ẩn nơi cùng cốc thâm sơn,
Chẳng trốn lánh tử-thần cho khỏi…”
Sự chết khổ –Vật chi mà sanh trong cõi trần-gian theo các công-lệ tự-nhiên, hễ có sanh ra  thì phải có ngày tiêu-diệt. Còn cái thân con người của ta đã do nơi tứ-đại (đất, nước, gió, lửa) mà hiệp thành, có bền chắc chi đâu mà tránh khỏi ngày tan-rã?
   Tại sao mà gọi thân tứ-đại hiệp thành? Xét  rằng tuy là ta thấy có sự cấu tạo của cha mẹ mà thành thân của ta, nhưng mà cái thân nầy suy gẫm cho kỹ lại: thịt và xương cốt là chất đặc nên thuộc về đất; máu huyết chất lỏng nên thuộc nước; hơi thở của ta thuộc về gió; sự ấm áp của ta thuộc về  lửa.
   Nhờ 4 món ấy chung hợp lại mới thành cái xác thịt của ta. Nếu hễ đến ngày tàn hạ rồi thì xương thịt rã ra hườn lại đất, máu huyết chảy ra huờn lại nước, hơi thở dứt đi thì trở lại với gió; sự  ấm  áp  dứt  đi thì nó trở lại cái  nóng của mặt trời. Như vậy tại làm sao gọi rằng khổ? Vì lúc sống linh-hồn nhờ xác thịt mà học hỏi, kinh-nghiệm việc đời, xử sự tiếp vật, đeo đắm theo lợi lợi, danh danh, tài tài, sắc sắc, không có chịu tra-cứu phân biệt cho rõ giả chơn, ý-thức sai lầm, nhận không rằng có,nhận có rằng không, thấy tà nói chánh, gặp chánh tưởng tà, rồi cũng do sự sai lầm ấy mà nhận huyễn-thân nầy làm thiệt-thân của  mình, mãi lo o-bế  sửa-sang, giồi mài cạo gọt, cưng nó dưỡng  nó như: tích trữ cơm tiền, dành cho nó ăn, dành để thuốc-thang cho nó uống, kiếm tìm thanh sắc để cho nó vui, xây-dựng cửa nhà cho nó ở (vẫn biết rằng ở trong đời ai cũng phải lo thân, nhưng mà người hiểu Đạo, biết rõ cái thân của mình tạm mượn trong thời-gian để học-hỏi nên lo vừa chừng, chẳng có ích-kỷ, vừa lo cho mình vừa giúp-ích cho đời, chừng bỏ xác thì có cái khác, còn người không hiểu Đạo thì bo-bo giữ nó bằng lối ích-kỷ mê lầm) ấy là muốn cho nó được trường tồn; kịp đến khi tử thần gõ cửa, số-vô thường đã tới, sanh ra muôn ngàn kinh-hãi, thần-trí hôn-mê rất tríu-mến cõi đời, cửa nhà con vợ, mà không làm sao sống được nữa, nên lúc ấy kẻ phùng mang, trợn mắt, người chắt lưỡi, nghiến răng, lăn-lộn giật mình, kêu than  thảm-thiết. Xét coi lúc ấy khổ sở là dường nào…”
“…Đường sanh-mạng Phật, ta đồng thọ,
Tánh an-nhiên bất-diệt trường-tồn.
Tử-thần kia đâu dám dắt hồn,
Thoát luân-chuyển khỏi đeo khổ tử…”
- Khỏi quả khổ mưu cầu bất đắc.
“…Đoạn thứ năm nghĩ-suy tìm-tõi,
Cầu chẳng thành những việc thích-ham.
Người trên đời ai cũng lòng tham,
Muốn phước, thọ, phẩm, hàm, tiền của.
Nào vợ đẹp, hầu xinh, là-lụa,
Không được thì bực-tức ưu-phiền.
Cả tâm thần điêu-đứng đảo-điên,
Vậy có phải khổ hay là chẳng?...”

“…Cuộc y thực muốn chi đủ thứ,
Không nhọc-nhằn lo việc sanh-nhai.
Trí yên nhàn nhìn cảnh Phật-Đài,
Khỏi quả khổ mưu cầu bất đắc…”
- Thoát sống khổ thương yêu ly biệt.
“…Đoạn thứ sáu Biệt-Ly cay đắng,
Người mình thương bỗng lại chia lìa.
Khi khóc than nước mắt đầm-đìa,
Lúc trông nhớ ruột tằm chua-xót.
Ở thế-gian mấy ai thoát lọt,
Nợ gia-đình đeo đắm căn duyên.
Cơn nguy nghèo thân-thể truân-chuyên,
Kẻ lưu-lạc người chờ trông mãi.
Cuộc tan hiệp, hiệp tan ân-ái,
Đến xong đời để lại sầu-ưu.
Cái khổ nầy dầu lắm trí mưu,
Cũng chung chịu như người tăm-tối…”

“…Cả Hải-Chúng thảy đều vững-chắc,
Toàn dân lành đâu có đắn-đo.
Dứt ái-ân quyến-thuộc chuyện-trò,
Thoát sống khổ thương-yêu, ly-biệt…”
- Khỏi khổ câu oán ghét gặp nhau.
“…Đoạn thứ bảy khổ Oan-Tắng-Hội,
Hễ thương nhau tất có ghét nhau.
Thường tranh-đua tiếng thấp lời cao,
Chẳng nhẫn-nhịn thành ra cừu-oán.
Muốn tránh xa đừng trông tâm dạng,
Cứ gặp nhau mắt tựa kim châm.
Làm cho người đau-đớn âm-thầm,
Khổ như thế diễn ra mãi mãi…”

“…Chữ Hòa-Thuận kể sao cho xiết,
Tâm đồng nhau thượng-thiện vui-vầy.
Cảnh như-như chẳng có đổi thay,
Không màng biết phân chia nhơn-ngã.
Sẵn vị ngôi rành phân thượng hạ,
Khỏi khổ câu oán ghét gặp nhau.
Thân tâm thường-trụ hết rạc-rào,
Chất thô-trược tiêu tan mất cả…”
-Khổ buồn rầu lo sợ chẳng còn.
“…Đoạn thứ tám Ưu-Sầu lo ngại,
Cuộc tang-thương dâu bể cảnh trần.
Nghèo thì lo một nỗi nợ-nần,
Lo đau-đói liệu cơn nhà rách.
Buồn duyên số phận mình nhơ sạch,
Rầu gia-đình chúng bạn khinh cười.
Giàu thì lo chen lấn với người,
Miễn cho được đầy rương đầy tủ.
Của dương-thế góp tom bảo-thủ,
Sợ gian-phi trộm cướp rình-mò.
Lo tước-quyền cho được thơm-tho,
Sợ kẻ khó thiếu tiền chẳng trả.
Ôi! cả sang hèn chẳng ai thong-thả,
Sao nhơn-sanh cứ mãi đắm say.
Chẳng tu thân đặng dựa Phật-Đài,
Cho thong-thả hưởng mùi sen báu…”

“…Cõi Tịnh-độ lắm điều thanh-nhã,
Khổ, buồn, rầu, lo, sợ chẳng còn.
Chốn Ta-bà tim lụn dầu mòn,
Thân tứ-đại của người cũng thế…”
2. DO CÕI TỊNH ĐỘ CÓ ĐỦ CÁC BÁU
   - Bảo trì (ao báu)
   - Bảo thọ ( cây báu)
   - Bảo võng ( lưới báu)
   - Bảo lâu (lầu báu)
   - Bảo điểu (chim báu)
   - Bảo đia (đất bu)
         ………………………………

123-266 “Ta bà khổ ta bà lắm khổ
Có bao người xét cho tột chỗ
Tịnh độ vui tịnh độ nhàn vui.
Cảnh  thanh minh sen báu nặc mùi
Nào ai rõ cái vui triệt đáo…” (Quyển năm )
C. ĐIỀU KIỆN VÃNG SANH TỊNH ĐỘ.
1. TRỪ LÒNG DỤC NHIỄM (TỰ LỰC).
116- 21 “… Trần gian say đắm theo màu sắc,
Tịnh độ giác thuyền trị dục tâm…” ( Quyển năm )
2. HỘI ĐỦ TÍN  NGUYỆN VÀ HÀNH (THA LỰC).
123-253 “…Lòng thương chúng thuyết phương Tịnh độ,
Đặng dắt dìu tất cả chúng sanh .
Nếu như ai cố chí làm lành,
Chuyên niệm Phật cầu sanh Phật quốc,
Cả vũ trụ khắp cùng vạn vật,
Dầu Tiên, Phàm, Ma, Quỉ, Súc sanh,
Cứ nhứt tâm Tín, Nguyện, Phụng hành,
Được cứu cánh về nơi an dưỡng...” ( Quyển năm )
D. NHỮNG TẤM GƯƠNG VÃNG SANH TỊNH ĐỘ.
1. XƯA (các tín đồ theo Đạo Phật)
2. NAY (Những tín đồ PGHH)
- Tu sĩ Cẩm Vân (con cô bảy Mi) ở ngả 3 lộ tẻ Rạch Giá. Niệm Phật biết trước 2 ngày vãng sanh Tịnh Độ, đến khi thiêu có xá lợi.
- Nguyễn văn Xem ở Tân Lập (An Giang) chết có hào quang.
- Ông Mười ở Tịnh Thất cô Bảy Lánh, khi ra đi Phât rước có mùi  thơm lạ quanh phòng…và còn rất nhiều đồng đạo khác nữa…

513-39  “Tức thời Điên giả làm thầy,
Đi coi đi bói khắp trong phố phường.
Có người tu niệm đáng thương,
Điên mới chỉ đường Tịnh Độ vãng sanh.” (Quyển nhất)

III. KẾT-BÀI:
TẠI NHÀ TU CŨNG ĐƯỢC VÃNG SANH TỊNH ĐỘ.
140-773 “Vô thượng thậm thâm dĩ ý truyền,
Danh ngôn chép để rạch đàng Tiên.
Cư gia Tịnh  Độ tâm viên mãn,
Sĩ xuất văn từ dốc dạy khuyên…” ( Quyển năm )
----o0----